Pages

Wednesday, December 7, 2011

Quản trị kinh doanh trong môi trường toàn cầu_P1



1. Thái độ toàn cầu hoá
Không quá ngạc nhiên khi chúng ta thấy một người Đức, Ý, hay Indonexia nói từ 3 đến 4 thứ tiếng. “Hơn một nửa số học sinh tiểu học Trung Quốc học tiếng Anh, và số lượng người nói tiếng Anh tại Trung Quốc và Ấn Độ vào khoảng 500 triệu người – số lượng này đã vượt trội so với số lượng người sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ ở bất cứ đầu trên thế giới.” Trái lại, hầu hết trẻ em Mỹ chỉ học duy nhất tiếng Anh ở trường – chỉ 24.000 là đồng thời học tiếng Trung. Và chỉ có 22% dân số Mỹ là có biết thêm một ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh.
Người Mỹ có xu hướng nghĩ rằng tiếng Anh là ngôn ngữ thương mại toàn cầu, và họ không cần thiết phải học thêm các ngôn ngữ khác. Điều này dẫn đến những điều rất phiền toái trong tương lai, vì một lượng lớn các nghiên cứu của Hội đồng Anh cho thấy rằng “Sự cạnh tranh của Anh và Mỹ đang bị xói mòn” vì họ chỉ biết nói duy nhất tiếng Anh.
Chủ nghĩa một ngôn ngữ là dấu hiệu cho thấy quốc gia đó mắc phải căn bệnh chủ nghĩa địa phương – xem thế giới chỉ có mình mình trong con mắt và quan điểm của họ. Những người có thái độ chủ nghĩa địa phương sẽ không nhận ra được những người khác có cách sống và làm việc khác. Họ từ chối chấp nhận giá trị và phong tục của những người khác, và khăng khăng áp đặt tư tưởng “của chúng tôi tốt hơn của họ” đối với những nền văn hoá nước khác. Thái độ hẹp hòi và thiển cận này là một trong số những điều mà nhà quản trị có thể mắc phải, nhưng nó không phải là hạn chế duy nhất.
Thực tế có 3 dạng thái độ toàn cầu có thể xuất hiện. Ta hãy xem xét cụ thể.
Thứ nhất là thái độ vị chủng, tự cho dân tộc mình là hơn cả, đây là thái độ địa phương chủ nghĩa có thể dễ thấy nhất trong quá trình làm việc và tập huấn ở những nước chủ nhà (quốc gia mà công ty đóng trụ sở chính). Nhà quản trị có thái độ vị chủng tin rằng dân cư ở nước ngoài thì không có những kỹ năng, thái độ, kiến thức và kinh nghiệm cần thiết để đưa ra các quyết định kinh doanh tốt nhất như những người nước mình. Họ không để nhân viên nước ngoài nắm giữ những vị trí có tính quyết định hoặc hàm lượng kỹ thuật cao.
Kế đến là thái độ đa phương hoá (polycentric attitude), tức là thái độ cho rằng nhân viên bản xứ (nước mà công ty này đang hoạt động kinh doanh) biết cách tiếp cận và vận hành hoạt động kinh doanh của họ tốt nhất. Những nhà quản trị có thái độ này xem những nghiệp vụ của nước khác thì khác biệt và khó hiểu. Do vậy họ có xu hướng để nhân viên nước bản xứ tính toán cách làm việc tốt nhất.
Dạng cuối cùng mà nhà quản trị có thể mắc phải là thái độ toàn cầu hoá (geocentric attitude), đây là quan điểm tập trung vào việc sử dụng cách tiếp cận và những con người xuất sắc nhất, bất kể quốc gia nào.  Nhà quản trị có thái độ này thì có tầm nhìn quốc tế và mong mỏi có được cách thức làm việc, và những con người tốt nhất, không quan tâm đến xuất xứ của họ ra sao. Chẳng hạn như CEO của Nissan và Renault, ông Carlos Ghosn, ông này là một người Lebanon, sinh ra ở Brazil, học ở Pháp và nói được 4 thứ tiếng trôi chảy. Do vậy ông rất phù hợp với hình tượng một nhà lãnh đạo doanh nghiệp toàn cầu hoá cho các công ty đa quốc gia. Chính nền tảng con người của Ghosn và quan điểm (thái độ) của ông đã giúp ông mở rộng sự hiểu biết của mình trong công việc của một nhà quản trị toàn cầu, một trong những điều gây ấn tượng nhất chính là thái độ toàn cầu hoá của ông. Chính thái độ quan điểm này loại bỏ được tư tưởng chủ nghĩa địa phương và giúp phát triển sự giao thoa văn ho. Đây là một dạng nhà quản trị thành công mà môi trường quốc tế ngày nay cần có.


2. Hiểu về môi trường toàn cầu
Một đặc điểm quan trọng của môi trường toàn cầu ngày nay đó là sự thương mại toàn cầu, điều vốn không có gì mới mẻ - nếu bạn chăm chỉ đọc lại các bài học lịch sử. Các quốc gia và tổ chức đã giao thương với nhau hàng thế kỉ rồi. Và ngày nay, xu hướng này càng trở nên mạnh mẽ. Thương mại toàn cầu ngày nay hình thành từ 2 nguồn lực: các liên minh thương mại khu vực và các cơ chế thương mại đảm bảo cho thương mại toàn cầu xảy ra.
Các liên minh thương mại khu vực
Nếu như trước đây sự cạnh tranh toàn cầu được nhìn nhận từ góc độ cạnh tranh giữa các quốc gia, chẳng hạn như Mỹ -Nhật, Pháp – Đức, Mexico – Canada… Thì bây giờ cạnh tranh toàn cầu được xem xét dưới góc độ các liên minh khu vực, chẳng hạn như EU[1] – Khối Bắc Mỹ (NAFTA)[2] – ASEAN[3]
Cơ chế thương mại toàn cầu
Thương mại giữa các quốc gia gia tăng đòi hỏi phải có một hệ thống đảm bảo cho việc thương mại tiếp tục hiệu quả và tiện lợi. Thực tế, một trong số những đặc điểm của toàn cầu hoá là tự tương tác giữa các quốc gia với nhau – tức là một việc xảy ra với một nước, dù tốt hay xấu, thì đều ảnh hưởng đến các quốc gia khác. Ví dụ điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ở Mỹ vào năm 2008 đã gây hiệu ứng Domino cho các nền kinh tế khác. Mặc dù trong giai đoạn này mọi thứ rất bấp bênh và không thể kiểm soát, nhưng kinh tế toàn cầu không sụp đổ. Tại sao? Vì có sự can thiệp của chính phủ và các cơ chế thương mại, tài chính đã giúp ngăn cản một cuộc khủng hoảng tiềm năng. 4 tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành, duy trì, và phát triển cơ chế thương mại toàn cầu là WTO[4] (World Trade Organization), IMF[5] (International Monetary Fund), WB (World Bank Group), và OECD[6] (Organization for Economic Cooperation and Development).
3. Kinh doanh toàn cầu
Việc doanh nghiệp hoạt động kinh doanh quốc tế không phải là điều gì mới mẻ. DuPont đã bắt đầu kinh doanh tại Trung Quốc từ năm 1863, H.J.Heinz đã sản xuất thực phẩm ở Anh từ năm 1905, Ford Motor bắt đầu mở chi nhánh bán lẻ tại Pháp từ năm 1908. HAGL đã đầu tư sang Lào, Campuchia và các nước Đông Nam Á từ những năm 2007, Viettel mở rộng kinh doanh sang Lào, Campuchia, Mozambique, Haiti từ năm 2010. Tuy nhiên tên gọi cho những công ty như thế này khá nhiều, các thuật ngữ được sử dụng như là “multinational”, “multidomestic”, “global”, “transnational”.
Multinational Corporation là chỉ những công ty quốc tế thực hiện hoạt động ở nhiều quốc gia khác nhau. Multidomestic Corporation là những công ty quốc tế có các quyết định quản trị do chi nhánh địa phương tự thực hiện và các công ty con của nó mang đậm tính địa phương (xu hướng đa phương hoá). Ví dụ điển hình như Nestle, PepsiCo, Walmart. Global Company là những công ty toàn cầu có sự tập trung hoá trong quản trị và ra quyết định (Quốc gia chủ nhà – nơi công ty đóng trụ sở sẽ đưa ra những quyết định cuối cùng). Ví dụ điển hình của những công ty dạng này là Deutsche Bank AG, Merrill Lynch. Các công ty còn lại loại bỏ yếu tố rào cản địa lý, và nhóm này được gọi là những công ty “transnational”, “borderless”, “organization”, nó phản ánh thái độ toàn cầu hoá. IBM, Ford Motor, Thomson SA là những công ty dạng này.
Các tổ chức vươn ra quốc tế như thế nào?
Khi một tổ chức muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ra nước ngoài, họ có nhiều cách tiến hành điều này.
Những tổ chức muốn gia nhập thị  trường quốc tế nhưng chỉ có vốn đầu tư nhỏ, thì họ có thể bắt đầu từ việc lập các công ty gia công quốc tế, những công ty này mua vật liệu và lao động ở khắp mọi nơi trên thế giới, miễn là nơi đó cho họ giá rẻ nhất. Mục đích của các tiếp cận này là tận dụng ưu điểm của nguồn lực giá rẻ để tăng khả năng cạnh tranh. Ví dụ điển hình; Massachusetts General Hospital sử dụng các chuyên gia vô tuyến học của Ấn Độ để thiết kế các máy chụp cắt lớp (CT Scans). Mặc dù việc gia công quốc tế chỉ là bước đầu tiên, nhưng những doanh nghiệp/tổ chức này thường tiếp tục sử dụng phương pháp này vì nó giúp giảm chi phí và tăng khả năng cạnh tranh.
Bước tiếp theo của việc vươn tầm quốc tế bao gồm việc xuất khẩu các sản phẩm của tổ chức ra những nước khác, thêm vào đó tổ chức cũng phải nhập khẩu các sản phẩm/linh kiện mà nó sản xuất ở nước ngoài và bán trong nội địa. Cả 2 cách này đều kéo theo rủi ro và một khoản đầu tư nhỏ.
Nhà quản trị có thể sử dụng bằng sáng chế hoặc nhượng quyền để vươn ra quốc tế. Tức là cho các tổ chức khác quyền sử dụng thương hiệu, công nghệ, hoặc sản phẩm để tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá. Sự khác biệt giữa 2 hình thức này là bằng sáng chế thì được các tổ chức sản xuất sử dụng để sản xuất hàng hoá hoặc bán các sản phẩm nhưng với tên gọi của nhãn hiệu khác, còn nhượng quyền thì bán cả công nghệ và thương hiệu, bằng cách nhượng quyền thì người tiêu dùng ở Chicago có thể ăn gà rán Guatemalan Pollo Campero, cư dân Hồng Kong có thể thưởng thức món Shakey’s Pizza…
Khi một tổ chức kinh doanh quốc tế, nó có thể tiến hành đầu tư trực tiếp hoặc gián tiến. Một cách để gia tăng đầu tư là thông qua các “đồng minh chiến lược” – liên doanh giữa tổ chức và các công ty nước ngoài, Honda, GE là những dạng này. Một dạng đồng minh chiến lược trình độ cao là thành lập “công ty cổ phần”, chẳng hạn như HP nắm giữ một số lượng lớn các công ty cổ phần với những nhà cung ứng khắp toàn cầu cho các thiết bị và linh kiện của nó.
Dạng cuối cùng mà các nhà quản trị lựa chọn để đầu tư là các chi nhánh nước ngoài, các chi nhánh nước ngoài thì tách ra riêng và hoạt động độc lập với trụ sở.
Quản trị trong môi trường quốc tế
Giả sử bạn đang là nhà quản trị của một tổ chức có thương hiệu toàn cầu ở nước ngoài. Bạn biết môi trường hiện tại thì khác với môi trường kinh doanh ở nước nhà, nhưng khác thế nào? Và bạn sẽ mong đợi điều gì? Chúc tôi sẽ trình bày một số khía cạnh có thể xem là thách thức mà nhà quản trị cần đối mặt
Môi trường pháp luận/ chính trị
Các nhà quản trị Mỹ thì quen với một hệ thống luật pháp và chính trị ổn định. Sự thay đổi có vẻ chậm chạp, và hệ thống luật pháp/chính trị được thiết lập rất tốt. Những cuộc bầu cử thực hiện 4 năm một lần, tuy nhiên bất chấp việc đảng nào lên nắm quyền, sự thay đổi trong chính sách và pháp luật là không đáng kể. Sự ổn định luôn được duy trì. Tuy nhiên điều này không phải lúc nào cũng đúng với những quốc gia khác. Nhà quản trị phải nắm rõ được thông tin và bức tranh chính trị toàn cảnh ở quốc gia họ đầu tư. Chẳng hạn như tổng thống Zimbabwe đang lên kế hoạch buộc các công ty nước ngoài phải phần lớn cổ phần công ty địa phương của họ cho các công ty trong nước. Những luật như thế này được đưa ra sẽ tác động rất lớn đến việc hoạt động kinh doanh của công ty nước ngoài. Ở Trung Quốc, nhà đầu tư nước ngoài ít nhận được sự chào đón nhiệt tình hơn, vì những thay đổi trong chính sách chính phủ đã làm việc kinh doanh của họ trở nên khó khăn hơn.  Công ty Aon, trụ sở tại Chicago đã tiến hành đánh giá, và hàng năm đều đưa ra các báo cáo cập nhật rủi ro chính trị. Trong báo cáo năm 2010 của công ty này, rủi ro chính trị được đánh giá là rất cao ở các quốc gia như Afghanistan, Congo DRC, Iran, Iraq, North Korea, Somalia, Sudan, Venezuela, Yemen, Zimbabwe. Những nhà phân tích công cho rằng sự bất ổn chính trị và tài chính sẽ vẫn tiếp tục cao trong bối cảnh nền kinh tế thế giới vẫn chìm trong suy thoái. Hãy nhớ rằng môi trường chính trị/pháp luật của một quốc gia không phải là một rủi ro/vấn đề quá nghiêm trọng và không thể giải quyết đối với một nhà quản trị hợp lý. Nhưng sự khác biệt trong môi trường chính trị và pháp luật giữa các quốc gia là rất quan trọng. Nhà quản trị phải nhận thức được sự khác biệt đó vì giới hạn (thách thức) và cơ hội luôn tồn tại đồng thời.
Môi trường kinh tế
Nghe có vẻ hơi lạ khi 17.000 tấn pho mát Parmesan với giá trị ước tính khoảng 187 triệu USD đang bị giữ tại tầng hầm của ngân hàng Ý, Credito Emiliano Bank. Những miếng pho mát này đang là tài sản thế chấp của một công ty sản xuất pho mát, trong bối cảnh kinh tế suy thoái. Những ví dụ như thế này có vẻ rất lạ lẫm đối với những nhà kinh doanh Mỹ, nhưng nó không phải điều gì xa lạ với những doanh nhân Ý.
Một nhà quản trị toàn cầu phải nhận thức được những vấn đề kinh tế khi tiến hành kinh doanh ở những quốc gia khác. Điều quan trọng đầu tiên là phải hiểu được hệ thống kinh tế của quốc gia đó. Có 2 dạng nền kinh tế cơ bản, đó là nền kinh tế kế hoạch hoá, hoặc nền kinh tế thị trường tự do. Một nền kinh tế thị trường tự do là nơi mà tài nguyên chủ yếu được sở hữu và quản lý bởi tư nhân. Trong khi nền kinh tế kế hoạch có những quyết định kinh tế được lên kế hoạch bởi chính phủ. Thực tế thì hông có nền kinh tế nào là tự do hoàn toàn, hoặc kế hoạch hoá hoàn toàn. Chẳng hạn như Mỹ và Anh là nền kinh tế hướng về thị trường tự do, nhưng vấn chịu sự can thiệp và quản lý của chính phủ Mỹ. Nền kinh tế của Việt Nam, Triều Tiên thì có tính kế hoạch hoá cao. Trung Quốc cũng là một nền kinh tế kế hoạch hoá cao, nhưng thời gian gần đây đã chuyển dần sang hướng tự do hoá thị trường. Tại sao nhà quản trị cần nắm rõ được cấu trúc nền kinh tế tại quốc gia họ đầu tư? Vì cấu trúc nền kinh tế sẽ giới hạn khả năng quyết định hoạt động của họ. Những vấn đề kinh tế cần nắm rõ là tỷ giá, lạm phát, chính sách thuế.
Lợi nhuận của một công ty đa quốc gia có thể bị ảnh hưởng rõ rệt nếu tỷ giá hối đoái thay đổi. Chẳng hạn trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái, sự gia tăng giá trị của đồng EUR so với USD và YEN có thể làm tăng lợi nhuận của các công ty Đức. Sự biến động của tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến quyết định của nhà quản trị và khả năng sinh lời của công ty.
Lạm phát, chỉ số giá chung các loại hàng hoá dịch vụ đang gia tăng, và nó sẽ ảnh hưởng đến lãi suất, tỷ giá, chi phí sinh hoạt, và niềm tin tổng thể vào hệ thống kinh tế - chính trị của một quốc gia. Những nhà quản trị cần xem xét xu hướng lạm phát cũng như những thay đổi có thể xảy ra trong chính sách tiền tệ của một quốc gia để đưa ra những quyết định kinh doanh tốt, căn cứ vào lực mua hàng hoá và giá cả.
Cuối cùng, chính sách thuế chính là một trong những lo lắng lớn nhất. Một vài quốc gia ban hành luật thuế nghiêm ngặn nhằm ngăn chặn tình trạng chuyển giá của các công ty đa quốc gia. Nhà quản trị cần nắm được chính xác thông tin về luật thuế của các quốc gia mà họ tiến hành hoạt động kinh doanh/đầu tư để có thể tối thiểu hoá mức thuế chi trả trên tổng thể.
Môi trường văn hoá
Việc quản lý lực lượng lao động có trình độ cao trong thời đại ngày nay thật sự là một thách thức không nhỏ. Một công ty đa quốc gia về sản xuất dầu khí thấy rằng doanh số của chi nhanh tại Mexico đã giảm tới 20% trong năm, công ty gửi một nhà quản trị Mỹ đến chi nhanh này và tìm hiểu nguyên nhân, sau khi nói chuyện với một vài nhân viên, nhà quản trị này nhận thấy chi nhánh của công ty đã từng tổ chức các buổi tiệc tùng, gặp mặt hàng tháng cho các nhân viên và gia đình của họ. Một nhà quản trị Mỹ khác cho rằng việc này là lãng phí thời gian và tiền bạc của công ty, nên đã huỷ bỏ nó, và đây chính là điều làm cho sản xuất và động lực của nhân viên sụt giảm. Tại công ty HP, một hãng sản xuất máy tính đa quốc gia của Mỹ, một đội kỹ sự người Mỹ và Pháp làm việc với nhau trong việc sản xuất một phần mềm. Những kỹ sư người Mỹ thì gửi những email dài, chi tiết cho đồng nghiệp của mình ở Pháp, trong khi những kỹ sư người pháp lại xem những email dài dòng này là biểu hiện khoe mẽ, vì thế họ chỉ gửi những email ngắn gọn và súc tích cho những đồng sự người Mỹ của mình. Ấy vậy mà các kỹ sư người Mỹ cho rằng những đồng sự người Pháp này đang dấu diếm gì đó. Sự bất đồng này khiến hoạt động phát triển phần mềm đình trệ, và mọi chuyện chỉ được giải quyết sau khi các thành viên của nhóm được tập huấn về văn hoá quốc gia.
Như chúng ta đã biết, mỗi tổ chức có một văn hoá tổ chức riêng, mỗi quốc gia cũng có văn hoá quốc gia riêng. Văn hoá quốc gia bao gồm những giá trị và chuẩn mực (thái độ) và nó ảnh hưởng/chi phối đến hành vi, niềm tin vào tầm quan trọng của một vấn đề nào đó.
Vậy điều gì là quan trọng hơn cả cho một nhà quản trị - văn hoá tổ chức hay văn hoá quốc gia? Lấy ví dụ với IBM Đức, tại đó văn hoá Đức hay văn hoá IBM là có ảnh hưởng hơn? Nghiên cứu chỉ ra rằng văn hoá quốc gia có ảnh hưởng lớn hơn so với văn hoá tổ chức. Người lao động Đức ở IBM sẽ bị ảnh hưởng bới văn hoá Đức nhiều hơn là văn hoá IBM.
Luật pháp, chính trị và sự khác biệt kinh tế cũng khá dễ thấy. Một nhà quản trị người Nhật làm việc tại Mỹ hoặc một đồng nghiệp người Mỹ của họ làm việc tại Nhật sẽ phải cập nhật thông  tin về luật pháp, chính sách thuế. Tiếp nhận những sự khác biệt này thật sự không dễ dàng. Tại sao? Vì rất khó để có thể giải thích được với một người nước ngoài về những đặc điểm văn hoá của quốc gia mình so với quốc gia của họ. Bạn là người Mỹ, bạn lớn lên ở Mỹ, vậy người Mỹ có văn hoá thế nào?
 
Lược dịch: Nguyễn Việt Hoà
Nguồn: Management 11th edition, Stephen E.Robbins và Mary COULTER.

[1] Liên minh Châu Âu (EU) là một liên minh kinh tế chính trị bao gồm 27 thành viên, dân số 500 triệu người và chiếm 31% tổng sản lượng kinh tế toàn cầu. Đồng Euro là đồng tiền chung và là đồng tiền chính ở 16/27 nước.
[2] Thành lập năm 1992, gồm Mỹ, Canada và Mexico. Tuy nhiên khối này có nhiều sự mở rộng không chính thức (Chẳng hạn như Mỹ kí thêm các hiệp ước thương mại với khối Trung Mỹ, …).
[3] Liên minh của 10 nước Đông Nam Á, dân số 591 triệu người và có quy mô 1.500 tỉ USD. Ngoài ra còn có ASEAN +3,+5 (thêm Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc, New Zealand)
[4] Hiện có 153 thành viên, là tổ chức duy nhất đưa ra các quy tắc thương mại giữa các quốc gia với nhau. WTO đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát, thúc đẩy và bảo vệ các quy tắc thương mại toàn cầu.
[5] Là một tổ chức có vai trò thúc đẩy sự liên minh tiền tệ toàn thế giới và nó cung cấp cho các quốc gia thành viên những tư vấn tài chính, khoản nợ tạm thời, và sự trợ giúp kiến thức, nhận sự để ổn định và phát triển quốc gia.
[6] Được hình thành từ năm 1947, thành lập theo kế hoạch Marshall, nhằm hỗ trợ các nước Châu Âu khôi phục kinh tế sau chiến tranh thế giới II. Khi cần thiết, OECD sẽ tham gia vào việc duy trì luật thương mại bình đằng giữa các quốc gia. Hiện OECD có 30 thành viên và có quan hệ hợp tác với 70 quốc gia đang phát triển và mới nổi.

4 comments:

  1. bài viết rất rõ ràng, dễ hiểu.Ví dụ chuẩn

    ReplyDelete
  2. Có thể cho mình hỏi những tài liệu và thông tin này là do bạn dịch từ sách Fundamental of Management hay là bạn có giáo trình này bằng Tiếng Việt? Cám ơn bạn :)

    ReplyDelete
  3. Dịch bạn ơn. Hồi đó chưa kiếm được việc làm, rảnh rỗi sinh nông nổi thôi.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Thực sự là em ngưỡng mộ anh quá. Hiện tại em đang học giáo trình này nhưng có rất nhiều chỗ không thể hiểu được. Mỗi chap đều rất nhiều thứ cần phải học :((

      Delete